Overblog
Edit post Follow this blog Administration + Create my blog

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong môi trường sống nói chung, vấn đề bảo vệ và cung cấp nước sạch là vô cùng quan trọng. ( Tìm hiểu thêm về công ty môi trường ) 

Đồng thời với việc bảo vệ và cung cấp nước sạch, việc thải và xử lý nước thải trước khi đổ vào nguồn là một vấn đề bức xúc đối với toàn thể loài người. Trong những năm gần đây,cùng với sự phát triển của nền công ghiệp nước ta, tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng đến mức báo động. Do đặc thù của nền công nghiệp mới phát triển, chưa có sự quy hoạch tổng thể và nhiều nguyên nhân khác nhau như: điều kiện kinh tế của nhiều xí nghiệp còn khó khăn, hoặc do chi phí xử lý ảnh hưởng đến lợi nhuận nên hầu như chất thải công nghiệp của nhiều nhà máy chưa được xử lý mà thải thẳng ra môi trường. Mặt khác nước ta là một nước đông dân, có mật độ dân cư cao, nhưng trình độ nhận thức của con người về môi trường còn chưa cao, nên lượng chất thải sinh hoạt cũng bị thải ra môi trường ngày càng nhiều.Điều đáng quan tâm là do pháp luât viêt nam chưa có những hình phạt xác đáng và biện pháp đúng đắng để bảo vệ môi trường nước. Chính lẽ đó dẫn tới sự ô nhiễm trầm trọng của môi trường sống, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của đất nước, sức khỏe, đời sống của nhân dân cũng như vẻ mỹ quan của khu vực. Trong đó, ô nhiễm nguồn nước là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời. Ngày nay vấn đề xử lý nước và cung cấp nước sạch đang là một mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức xã hội và chính bản thân mỗi cộng đồng dân cư. Và đây cũng là một vấn đề cấp bách cần giải quyết của nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Nhằm mục đích góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của con người,nên em chọn đề tài “PHÁP LUẬT VỚI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC”.Em hy vọng qua bài tiểu luận này sẽ tác động một phần nào đó vào ý thức của toàn thể loài người về môi trường nước, sẽ đã thông vào tư tưởng và giúp họ có một cái nhìn thông thoáng hơn về môi trường nước. II.MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích 1.1Mục đích - Nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên - Tập cho sinh viên bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học - Cho thấy tầm quan trọng của môi trường nước - Làm rò hơn về pháp luật viêt nam với môi trường nước 1.2Yêu cầu - Nêu ra phần tổng quan về thực trạng môi trường nước hiện nay - Đưa ra đường lối của đảng và pháp luật của nhà nước - Giải pháp đẻ bảo vệ môi trường nước III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề ô nhiễm môi trường nước, pháp luât đối với ô nhiễm môi trường nước và biện pháp khắt phục. IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Tiềm hiểu môi trường nước với pháp luật trong phạm vi cả nước đặc biệt quan tâm nhiều hơn đối với các thành phố lớn V. NHỮNG ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI - Nâng cao nhận thức của con người về vấn đề ô nhiễm môi trường nước - Giúp hiểu biết thêm về pháp luật với môi trường nước VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích, tổng hợp, phân loại - Phương pháp quan sát - Phương pháp tiềm kiếm, thu thập thông tin

n và toàn quân. Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường . Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường cần được gắn với trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân và mọi người dân theo nguyên tắc "mình vì mọi người, mọi người vì mình" là tuyệt đối đúng. Văn hóa môi trường cần được sớm hình thành bên cạnh văn hóa công sở, văn hóa thôn xóm, văn hóa doanh nghiệp. Thành công của công tác bảo vệ môi trường là giải quyết tốt hàng loạt mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, cục bộ và tổng thể. Công tác này đòi hỏi phải tập trung, kiên trì, giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, tiến hành đồng bộ các biện pháp một cách thường xuyên, liên tục với quyết tâm cao nhất. Bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, an toàn. An ninh sinh thái là một bộ phận của an ninh quốc gia. Bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh sinh thái và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là góp phần giữ vững và tăng cường an ninh quốc gia. Vì vậy, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn mang tính toàn cầu; là yếu tố bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc gia, nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đòi hỏi phải thay đổi từ thói quen, nếp nghĩ, tâm lý đến hành động của từng người, cộng đồng của từng quốc gia và toàn thế giới. Chính những điều đó hình thành nên đạo đức và nhân văn môi trường và là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh trong thời đại mới. 1.2. Pháp luật của nhà nước THEO LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ 52/2005/QH11 NGÀY 29 THÁNG 11 NĂM 2005 ĐÃ QUY ĐỊNH NHƯ SÂU: Điều 57. Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển 1. Nguồn thải từ đất liền, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, khu dân cư ven biển, trên biển, trên đảo phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường biển. 2. Chất thải và các yếu tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông, vận tải, khai thác trên biển phải được kiểm soát và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường. 3. Dầu, mỡ, dung dịch khoan, hoá chất và các chất độc hại khác được sử dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau khi sử dụng phải được thu gom, lưu giữ trong thiết bị chuyên dụng và phải được xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại. 4. Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hoà xã hội Chủ Nghiã Việt Nam Điều 59. Nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông 1. Bảo vệ môi trường nước sông là một trong những nội dung cơ bản của quy hoạch khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước trong lưu vực sông. 2. Các địa phương trên lưu vực sông phải cùng chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường nước trong lưu vực sông; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do tài nguyên nước trong lưu vực sông mang lại và bảo đảm lợi ích cho cộng đồng dân cư. Điều 60. Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông 1. Nguồn thải trên lưu vực sông phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải pháp kiểm soát, xử lý trước khi thải vào sông. 2. Chất thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản dưới lòng sông và chất thải sinh hoạt của các hộ gia đình sinh sống trên sông phải được kiểm soát và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường trước khi thải vào sông. 3. Việc phát triển mới các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tập trung trong lưu vực sông phải được xem xét trong tổng thể toàn lưu vực, có tính đến các yếu tố dòng chảy, chế độ thuỷ văn, sức chịu tải, khả năng tự làm sạch của dòng sông và hiện trạng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phát triển đô thị trên toàn lưu vực. Điều 61. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường nước trong lưu vực song 1.

Thông tin thêm : tư vấn quan trắc môi trường  

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm sau đây: a) Công khai thông tin các nguồn thải ra sông; b) Kiểm soát nguồn thải vào nước sông và xử lý các trường hợp vi phạm tiêu chuẩn môi trường; c) Phối hợp với cơ quan hữu quan trong việc xác định đối tượng gây thiệt hại về môi trường và giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường trong trường hợp đối tượng bị thiệt hại thuộc các địa phương khác trên lưu vực. 2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên thượng nguồn dòng sông có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên hạ nguồn dòng sông trong việc điều tra phát hiện, xác định nguồn gây ô nhiễm nước sông và áp dụng các biện pháp xử lý. Trường hợp có thiệt hại về môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra thiệt hại có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan để tổ chức việc điều tra, đánh giá về mức độ thiệt hại và yêu cầu các đối tượng gây thiệt hại phải bồi thường. 3. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi phát sinh nguồn thải có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc đối tượng gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn phải thực hiện nghĩa vụ khắc phục và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Điều 62. Tổ chức bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông 1. Việc điều phối hoạt động bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông nằm trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. 2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông. 3. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện quy định của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông. Điều 63. Bảo vệ môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch 1. Nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch phải được điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng và bảo vệ để điều hoà nguồn nước 2.Không được đổ đất, đá, cát, sỏi, chất thải rắn, nước thải chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường và các loại chất thải khác vào nguồn nước mặt của hồ, ao,kênh,mương, rạch. 4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng và lập quy hoạch bảo vệ, điều hoà chế độ nước của hồ, ao, kênh, mương, rạch; lập và thực hiện kế hoạch cải tạo hoặc di dời các khu, cụm nhà ở, công trình trên hồ, ao, kênh, mương, rạch gây ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn dòng chảy, suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước và làm mất mỹ quan đô thị. Điều 65. Bảo vệ môi trường nước dưới đất 1. Việc bảo vệ môi trường trong thăm dò, khai thác nước dưới đất được quy định như sau: a) Nghiêm cấm việc đưa vào nguồn nước dưới đất các loại hoá chất, chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và các tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật; b) Có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước dưới đất qua giếng khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất; cơ sở khai thác nước dưới đất có trách nhiệm phục hồi môi trường khu vực thăm dò, khai thác; các lỗ khoan thăm dò, lỗ khoan khai thác không còn sử dụng phải được lấp lại theo đúng quy trình kỹ thuật để tránh làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất. 2. Dự án khai thác khoáng sản, dự án khác có sử dụng hoá chất độc hại, chất phóng xạ phải có biện pháp bảo đảm không để rò rỉ, phát tán hoá chất, chất thải độc hại, chất thải phóng xạ, sinh vật nhiễm bệnh vào nguồn nước dưới đất. 3. Kho chứa hoá chất, cơ sở xử lý, khu chôn lấp chất thải nguy hại phải được xây dựng bảo đảm an toàn kỹ thuật, có biện pháp ngăn cách hoá chất độc hại ngấm vào nguồn nước dưới đất. 4. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức điều tra, đánh giá, quan trắc định kỳ trữ lượng, chất lượng nước dưới đất. 2. Cơ sở thực tiễn Trong những năm qua,các hành vi gây ô nhiễm môi trường nước đã lên mức báo động. Có lẽ con số khiến nhiều người lo lắng hơn cả là cơ quan chức năng đã phát hiện đến hơn 3.000 vụ việc, tội phạm vi phạm pháp luật về môi trường tăng đến 275% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, có 1.034 doanh nghiệp, 2.096 cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. 62 vụ đã bị khởi tố với hơn 106 bị can.Thật ra, tội phạm về môi trường đang gia tăng đến mức báo động không phải là chuyện “cây kim trong bọc lâu ngày lòi ra”. Bởi hầu như không ngày nào mà báo chí không có thông tin về tình trạng xâm hại môi trường. Do vậy, con số hơn 3.000 vụ việc mà cơ quan cảnh sát đã nêu không phải là con số kinh hoàng. Trên thực tế số vụ việc vi phạm có lẽ còn cao hơn rất nhiều nhưng vì nhiều lý do chưa bị phát hiện. Điều đáng lo là bên cạnh số vụ việc vi phạm trên, dù không thấy con số thiệt hại tính bằng tiền, nhưng ai cũng biết mối nguy hại vô cùng lớn mà chúng ta đang gánh chịu. Thiệt hại đó không chỉ dừng lại ở kinh tế mà đó còn là sức khoẻ cộng đồng và lòng tin của nhân dân. Nó cũng cho thấy một nền kinh tế phát triển thiếu tính bền vững khi một bộ phận không nhỏ cá nhân, doanh nghiệp đã vì lợi nhuận mà xem nhẹ sự trường tồn của môi trường. 62 vụ việc bị khởi tố so với con số 3.000 vụ việc đã bị phát hiện lại tiềm ẩn một mối lo khác. Đó là sự thiếu cương quyết của pháp luật đối với loại tội phạm vô cùng nguy hiểm này. Nó khiến ta liên tưởng đến vụ Vedan, một vụ vi phạm pháp luật về môi trường điển hình đã bị phát hiện quả tang nhưng chỉ bị xử lý hành chính.    Hai năm qua, những người đã cố tình vi phạm pháp luật đó không chỉ nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật mà còn mặc sức kỳ kèo trả giá với những người nông dân đáng thương về số tiền bồi thường. Hay một Hào Dương (TPHCM) đã nhiều lần vi phạm, đã bị phát hiện, nhưng tiếp tục tái phạm. Cá chết trắng ao hồ, ruộng vườn không canh tác được, sông suối bị bức tử…      Người nông dân thì trắng tay, chưa kể sức khoẻ cộng đồng bị xâm hại nghiêm trọng. Tất cả những thiệt hại hiển hiện ngay trước mắt chúng ta đó vì sao không thể là bằng chứng để chứng minh tội phạm? Thật đáng rùng mình nếu trong hàng ngàn vụ không bị khởi tố đó có một vài vụ giống Vedan. Sự so sánh này có vẻ khập khiểng. Thế nhưng, nó cũng cho thấy một thực tế là pháp luật về môi trường của chúng ta còn quá nhiều kẽ hở. Đó là việc bình thường, bởi pháp luật phải va chạm với cuộc sống thì mới được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp. Điều không bình thường là đã hơn 2 năm trôi qua, chúng ta dường như vẫn chưa làm gì đủ để ngăn chặn sự xuất hiện của những Vedan khác. Những khiếm khuyết của pháp luật ngày càng bị những đối tượng vi phạm, cố tình vi phạm tận dụng triệt để trước sự bất lực của người dân. Tình trạng vệ sinh môi trường nước nhìn chung còn rất yếu kém và đang xuống cấp nghiêm trọng. Các dịch bệnh mấy năm gần đây bùng phát trên diện rộng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và cản trở tốc độ phát triển kinh tế- xã hội.” Đó là ý kiến của Thứ trưởng Bộ Xây dựng Trần Ngọc Chính đưa ra tại Hội thảo "Vệ sinh môi trường với quản lý tổng hợp tài nguyên nước" - do Hội Cấp thoát nước Việt Nam thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức ngày 6/6/2010 tại Hà Nội. Mặc dù vấn đề quản lý vệ sinh môi trường nước, đặc biệt là các lưu vực sông, ở nước ta đã được đưa ra nhưng việc thực hiện chưa đồng bộ và triệt để. Chính vì thế nên chất lượng nước ở nhiều con sông như sông Nhuệ, sông Đáy, sông Đồng Nai... đã suy thoái nhanh. Hậu quả là không thể cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân cũng như không thể cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp và các hoạt động dịch vụ khác. Bên cạnh đó, còn do ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của con người đang sinh sống trong lưu vực cũng làm cho các dòng sông nhanh chóng xuống cấp. Tại Hội thảo, nhiều ý kiến cho rằng đứng trên phương diện quản lý tổng hợp tài nguyên nước, việc xử lý hiệu quả các dòng sông chỉ trong phạm vi ranh giới hành chính là rất khó, và chưa có biên pháp xử lý đích đáng. II.

Giải pháp môi trường : xử lý nước thải công nghiệp 


CÔNG TY CP DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ SÀI GÒN (SGC)
Trụ sở: 49F/1, HT18, P.Hiệp Thành, Q12, HCM
VPGD : 224,KP1,HT37,P.Hiệp Thành,Q12, HCM
Tel: 0283.717.7382Fax: 0283.717.3057
CN Hà Nội: số 10, ngách 173, ngõ 192, Lê Trọng Tấn, Q. Hoàng Mai
Tel: 0283.717.7382Fax: 0283.717.3057
Email: info@hsevn.com.vn
Website: http://hsevn.com.vn/

Tag(s) : #Công ty môi trường, #Bảo vệ môi trường, #Công ty môi trường tp.hcm, #Môi trường
Share this post
Repost0
To be informed of the latest articles, subscribe: